Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

Bồ Tát giới tại gia

          Bồ Tát giới phạm vi rất rộng, tư tưởng vô cùng khoáng đạt, vượt thoát mọi chấp thủ và ước lệ đời thường, nó thuộc về thông giới. Ngoài thất chúng đệ tử ra còn có quỷ thần, Bát bộ và những chúng sanh nào hiểu được ý nghĩa của Pháp sư thuyết giới mà hành trì thì đắc giới.
          Trong Bồ Tát giới kinh dạy rằng: “Lục đạo chúng sanh thọ đắc giới, đản giải ngữ đắc giới bất thất”, nghĩa rằng chúng sanh trong lục đạo chỉ cần nghe hiểu lời Pháp sư truyền giới Bồ Tát giới mà trì giới thì được đắc giới. Do vậy, mọi người nam nữ, già trẻ và tất cả chúng sanh, trừ thành phần phạm bảy trọng tội (1- Giết Cha; 2- Giết Mẹ; 3- Làm thân Phật ra máu; 4- Giết A La hán; 5- Giết Hòa Thượng; 6- Phá Hòa Hiệp Tăng; 7- Giết Thánh Nhơn) đều có thể thọ Bồ Tát giới. 
          Có hai trường hợp mất giới Bồ Tát: 
          1. Tội thứ nhất là cố sát nhân không biết hổ thẹn sám hối.
         2.  Tội thứ hai là xả Bồ đề tâm, ví dụ nói : “Tôi không tin việc làm Phật , không tin Tam Bảo và không phát Bồ Đề tâm nữa”. 
          Ở trong “Phạm Võng Bồ Tát kinh” có thuyết gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh, đối với hàng xuất gia, tại gia cần tuân thủ. Nhưng trên thực tế tùy theo hoàn cảnh, phong tục mà nội dung Bồ Tát giới tại gia có giảng lược một số giới điều để người thọ giới dễ thích ứng và vận dụng. Hiện nay, nội dung giới văn Bồ Tát tại gia gồm 6 giới trọng và 28 giới khinh (có giải thích rõ từng giới điều) mà được phổ biến trong các giới đàn truyền thọ, chúng tôi trích ra để Phật tử đọc dễ hiểu ý nghĩa từng giới :
Sáu giới trọng là: 
1. Từ thân này đến thân thành Phật, ở trong khoảng giữa không được sát sanh.
2. Từ thân này đến thân thành Phật, ở trong khoảng giữa không được trộm cắp.
3. Từ thân này đến thân thành Phật, ở trong khoảng giữa không được tà dâm.
4. Từ thân này đến thân thành Phật, ở trong khoảng giữa không được nói dối.
5. Từ thân này đến thân thành Phật, ở trong khoảng giữa không được nói lỗi của người tại gia và xuất gia.
6. Từ thân này đến thân thành Phật, ở trong khoảng giữa không được bán rượu, nấu rượu.

Hai mươi tám giới khinh như sau: 
1. Không cúng dường cha mẹ, sư trưởng, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
2. Say đắm rượu chè, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
3. Cố ý gớm ghê không chăm sóc người bệnh khổ, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
4. Gặp người hành khất, không nhiều thì ít, phải tùy tâm mà bố thí, nếu để người hành khất về không, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
5. Nếu thấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Trưởng lão, bậc Tôn Đức, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di... không đứng dậy nghinh tiếp hỏi thăm, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
6. Nếu thấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di hủy phạm giới đã thọ, sinh tâm kiêu mạn, rồi nói rằng: Ta hơn người kia, người kia không bằng ta..., đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
7. Trong mỗi tháng có sáu ngày trai, nếu không đi thọ Bát quan trai giới, không cúng dường Tam Bảo, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
8. Trong khoảng tám mươi dặm, nơi có thuyết pháp mà không đến nghe, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
9. Thọ dụng vật của Thường trụ Tăng như ngọa cụ, giường, tòa ngồi, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
10. Nghi trong nước có vi trùng nhưng vẫn tùy tiện dùng, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
11. Không có bạn mà vẫn một mình đi vào nơi hiểm nạn, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
12. Một mình ngủ lại tại chùa Ni nếu là Ưu Bà Tắc, hoặc chùa Tăng nếu là Ưu Bà Di, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
13. Vì của cải, thân mạng mà đánh mắng người giúp việc, trẻ con hầu hạ hoặc người ngoài..., đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
14. Nếu đem thức ăn dư thừa dâng cúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni hoặc cung cấp cho người đồng giới, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
15. Nếu nuôi những loài ăn thịt như mèo, chồn..., đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
16. Có các loài vật như voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà... nếu không làm phép tịnh thí mà cho những người chưa thọ giới, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
17. Nếu không sắm cất các thứ y bát tích trượng ngọa cụ (để phòng khi cần cúng dường cho vị xuất gia thọ Bồ Tát giới), đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
18. Nếu vì nuôi thân mạng mà cần làm ruộng, nhưng không tìm nước trong (để tưới..) và đất ruộng cũ (để trồng trọt), đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
19. Nếu vì nuôi thân mạng mà mở phố buôn bán, cân đong hàng hóa; không được đã thỏa thuận giá cả rồi lại đem bán cho người trả giá cao hơn; cân đấu dùng để cân đong hàng hóa phải đúng mức quy định, nếu chưa đúng mức phải bảo sửa chữa lại, không làm như vậy, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
20. Nếu không phải chỗ, không phải thời mà hành dục, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
21. Nếu vì sinh sống mà buôn bán đem giá lên xuống, mua rẻ bán quá đắt, gian lận, trốn thuế, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
22. Trái phạm luật pháp nhà nước, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
23. Nếu có lúa mới, hoa trái, dưa rau các thứ đầu mùa, không hiến cúng Tam Bảo mà thọ dụng trước, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
24. Nếu chúng Tăng không chấp thuận mà vẫn tự mình thuyết pháp, tán thán quan điểm riêng của mình, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
25. Trên đường đi mà dành đi trước Tỳ Kheo, Sa Di, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
26. Khi dọn thức ăn ở giữa Tăng chúng nếu vì thiên vị thầy mình mà lựa chọn các thứ ngon lành dâng cho nhiều hơn các vị khác, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
27. Nếu nuôi tằm, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.
28. Trên đường đi gặp người bệnh tật mà không dừng lại chăm sóc, làm các phương tiện, như dặn bảo những người khác chăm sóc, đó là Bồ Tát tại gia phạm tội thất ý.

          Thọ Bồ Tát giới là đi trên con đường cao thượng, nuôi lớn lòng đại bi, thương chúng sanh chìm nổi trong sanh tử tạo vô lượng ác nghiệp, thọ vô lượng tội báo mà xả thân cứu độ. Đây là chánh nhân tu học để thành Phật đạo. Phát bồ đề tâm, hành Bồ Tát đạo là công đức và phước báu to lớn nhất. Lấy đại bi tâm làm chủ, lấy bồ đề tâm dẫn đạo, thực hiện lý tưởng Đại thừa là điểm then chốt của người học Phật cần khắc cốt ghi tâm.

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

Tập đế trong ăn uống (Nguyệt san Giác Ngộ)

NSGN - Ăn để mà tu thì dù ngon dù dở, dù chay dù mặn đều phải y những gì Đức Phật đã dạy, mới không bị cái tập ăn uống trói buộc

Một câu chuyện thời quá khứ
          Sutasoma và Brahmadatta(1) là hai vương tử của nước Câu-lâu và Ba-la-nại. Lệ là trước khi thành quốc vương đều được gởi đến một vị danh sư để học pháp. Suta, chẳng bao lâu đạt đến tài năng giảng dạy, nhưng lại không muốn thăm hỏi các bạn khác nhiều mà chỉ chú ý đến Brahma, và trở thành thầy riêng của Brahma. Suta tiên đoán đại nạn sẽ xảy đến với Brahma trong tương lai, nên trước khi chia tay, Suta dặn dò:
          - Sau khi chứng tỏ tài học của mình trước phụ vương, các vị sẽ ổn định đời sống của riêng mình. Khi ổn định xong, xin nhớ tuân lời giáo huấn của ta.
          - Thưa Tôn sư, đó là lời giáo huấn gì?
          - Vào những ngày trăng non và trăng tròn phải giữ giới Bồ-tát và không được sát sinh.
Các vương tử đều đồng ý tuân lời dặn ấy.
          Vua Brahma chưa bao giờ ăn cơm mà không có thịt, vì thế để giữ ngày trai giới, quần hầu thường lấy thịt cất riêng một nơi. Do người đầu bếp bất cẩn, bầy chó của hoàng cung ăn hết. Sau đó, người đầu bếp không thể tìm ra thịt, nên phải lấy đỡ miếng thịt đùi của một người vừa chết, nướng thật chín và dọn lên làm thức ăn.
          Khi lát thịt vừa chạm vào đầu lưỡi, toàn thân của Brahma rúng động. Đó là do tiền kiếp, vua đã từng là quỷ Dạ-xoa ăn thịt người. Ăn thịt người đã thành tập nghiệp ẩn sâu trong tiềm thức của Brahma. Giờ đủ duyên, tập ấy bùng phát. Vua quên hết những gì đã được học, mê mải theo món thịt người, quên luôn lời dặn của Suta là không được sát sinh.

          Vua ra lệnh cho đầu bếp bỏ hết tất cả các loại thịt khác, chỉ làm một món thịt người nướng. Ban đầu, là thịt của hàng tù nhân. Sau thịt tù nhân không đủ cung cấp, vua và đầu bếp lập kế tìm đến thịt dân lành. Việc xảy ra liên tục, khiến dân chúng rúng động và cầu cứu lên tướng quân Kalahatthi. Sau nhiều tuần theo dõi, đầu bếp của vua bị bắt.
          Tướng quân biết việc vua ăn thịt người, ông ra sức khuyên nhủ nhưng vua nhất quyết không nghe. Vua bị tước vương quyền và đày ra sống ở bìa rừng. Theo sở nguyện, Brahma được giữ một thanh kiếm bên mình và ra đi cùng tên đầu bếp. Sống trong rừng, ông tiếp tục gây nghiệp để tìm thức ăn cho mình. Khi người trong rừng hết, ông giết tên đầu bếp…
          Câu chuyện còn dài nhưng chỉ ghi lại phần này vì nó liên quan đến những gì cần nói. Tướng quân Kalahatthi là tiền thân của ngài Xá Lợi Phất. Sutasoma là tiền thân của Đức Phật. Sau này Sutasoma chính là người cảm hóa vua Brahma. 

Tập, là thứ đáng sợ
          Brahma trở thành như thế là do đã huân tập thói quen ăn thịt người khi còn làm quỷ Dạ-xoa.
          Tập, là sự tích tụ. Một chi phần của Tứ diệu đế. Thứ gì tích tụ nhiều sẽ có lực dẫn mình lao theo nó như con thiêu thân lao vào ánh đèn dù chỉ để chết. Nghiện hay thói quen là một dạng của tập. Nó là căn nguyên khiến chúng sinh rơi vào đường khổ. Cũng khiến chúng sinh không được giải thoát và Niết-bàn.
          Không chỉ có vua Brahma bị cái tập ăn thịt dẫn phát mà cả thánh Ananda, do nhiều đời làm vợ chồng với Ma-đăng-già, nên khi khất thực ngang qua nhà nàng, đã “bị Ma-đăng-già dùng thần chú Ta-tỳ-ca-la Tiên Phạm Thiên bắt vào phòng riêng, kề cận, vuốt ve, khiến Anan sắp mất giới thể”(2).
          Trong đời này, ta đã tích tụ rất nhiều thứ như thế. Tình cảm, ái dục, ngủ nghỉ, ăn uống, tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến… không thể kể xiết. Cũng không hề biết đó là cái nhân của sự trói buộc và khổ đau.
          Thói quen hay sự tích tụ, bản chất của nó là trói buộc. Khi nhận thức trói buộc không phải là một trạng thái hạnh phúc, ta muốn giải thoát. Vì thói quen là nhân đưa đến trói buộc nên muốn giải thoát, chỉ có cách là phải phá bỏ thói quen. Vì thế dừng bỏ được những thói quen của mình, chính là tu. Đó là cách tu thẳng tắt nhất trong các cách tu. Vì thẳng tắt quá nên khó làm. Thành phải mượn sự huân tập các thiện nghiệp như tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền v.v… để có lực dừng đi các tập nghiệp xấu. Những cái tập mà hiện giờ, có thể ta thấy bình thường, nhưng về lâu về dài, có khi trở thành cái họa không hay cho mình.
          Có lẽ, đó là lý do vì sao đối với Phật tử tại gia mới đến thiền viện tu học, Hòa thượng Trúc Lâm nói “Không ăn chay vẫn tu được” mà tất cả chư Tăng của Hòa thượng không ai được ăn mặn. Các bậc tôn túc cũng thường ăn chay khuyên người tu tập nên chay lạt dần. Các bộ kinh giảng cho hàng đại Bồ-tát như kinh Lăng-già cũng nhắc đến việc ăn chay. Vì ngoài việc giúp hiển phát lòng từ đối với chúng sinh và hạn chế dần việc tham đắm mùi vị, đó còn là cách giúp chấm dứt cái tập ăn mặn.
          Có người cho rằng ăn chay vẫn giết hại sinh vật không khác ăn mặn, vì trong rau có các vi sinh vật mà mắt mình không thấy. Nếu nói đến việc đó thì ở đâu cũng có, không phải chỉ trong rau mới có. Trong nước cũng có, trong bò, trong heo còn nhiều hơn nữa. Nếu mang lên bàn cân để coi nặng nhẹ thì bò, chó, heo và lũ vi sinh vật theo chúng vẫn nặng ký hơn nhiều so với một mớ rau cải.
          Nói đến mặt tham đắm mùi vị, thức ăn chay dù biến hóa thế nào, cũng không thể có khẩu vị và sự bày biện như thức ăn mặn. Có giả thịt giả cá thì ăn vào nó vẫn bột bột, không thể như cá với thịt, dù mùi vị có tương tợ.
          Cho nên ăn chay vì thích hay vì để trị bệnh thì không nói, còn đã có ý thức ăn chay để thấy mình không phải là cái duyên (dù chỉ là gián tiếp) khiến chúng sinh bị sát hại thì đó là một bước ngoặt khá tốt đối với người tu. Song chay mặn gì thì “tập” vẫn là thứ cần phải thanh lọc cho sạch nếu muốn giải thoát.
          Sợ nhất là không thấy rõ tâm mình. Bị cái nghiệp ăn mặn trói buộc mà cứ nghĩ là đã tự tại với việc ăn uống. Có người chay được vài tháng, bỗng lăn ra ăn mặn, không vì lợi ích cho ai, chỉ vì nghĩ mình đã tự tại với việc chay mặn. Không biết là đang bị thằng vọng tưởng nhà mình nó gạt, mà gốc là cái tập ăn mặn ẩn sâu trong tiềm thức của mình. 
          Thôi thì chay mặn gì cũng được miễn là nhìn cho tường tận về con người của mình là tốt. Nên nhìn các pháp đúng như chính nó. Làm được hay không để đó tính sau. Không nên để cái tưởng của mình thần thánh hóa mình lên rồi đi từ nhầm lẫn này sang nhầm lẫn khác.

Vậy tu là phải ăn chay?
          Đây là đề tài khá nóng bỏng đối với giới trên mạng. Người thì cho “Tu hành là phải ăn chay”. Người lại nói “Ăn mặn không hề hấn gì”. Cãi qua cãi lại bất phân thắng bại. Làm sao phân được thắng bại khi lỗi không nằm ở việc chay mặn mà ở chữ “tập”?
          Thái hậu, một lần mở tiệc thịnh soạn. Tuệ Trung Thượng Sĩ dự tiệc, gặp cá, gặp thịt cứ ăn. Thái hậu thấy lạ hỏi:
- Anh tu thiền mà ăn cá ăn thịt thì thành Phật sao được?
          Thượng Sĩ cười:
-  Phật là Phật, anh là anh. Anh chả cần làm Phật. Phật chả cần làm anh. Thái hậu không nghe người xưa nói: “Văn Thù là Văn Thù. Giải thoát là giải thoát” sao?(3).

          Ăn chay không phải là cái nhân thành Phật, dù đó là một trợ duyên khá tốt cho việc tu hành. Muốn thành Phật thì điều kiện tiên quyết phải là định tuệ bình đẳng rồi mới nói tiếp việc khác. Nó liên quan nhiều đến việc thanh lọc tâm, không phải chỉ một việc ăn chay mà thành Phật được. Nếu chỉ ăn chay mà thành Phật thì con bò cũng đã thành Phật từ lâu. Nhưng bò là bò mà Phật là Phật. Thành vấn đề không nằm ở việc chay hay mặn mà là bạn có dính mắc hay bị trói buộc vào đó hay không.
          Hòa thượng Tinh Vân khi dùng cơm ở Hội Phật giáo Nhật Bản đã từng phải ăn mặn, dù “nghe mùi tanh nồng nặc xông khắp”. Biết “canh mình dùng toàn bột nêm tôm cá”, ngài vẫn phải dùng. Chỉ vì “Phật pháp dùng từ bi làm nền tảng, lấy phương tiện làm cửa vào để tu đạo và độ chúng. Sự thanh tịnh nội tâm mới là quan trọng”(4). Do muốn tránh cho mọi người sự khó chịu, nên ngài vui vẻ cùng dùng. Trong những duyên khác, ngài vẫn dùng chay.
       Dù không phải là giới cấm nhưng nếu thiên hạ dọn lên một bữa chay mà mình nuốt không trôi, hoặc ăn vài tháng đã thấy thèm mặn thì phải hiểu cái tập ăn mặn đang đóng khắp châu thân của mình. Ăn chay mà người sinh bệnh hoặc trở nên yếu cũng là một dạng đang bị cái tập mặn trói buộc. 
          Cho nên, vấn đề không nằm ở bữa chay hay bữa mặn mà ở cái tập chay mặn ta đã thanh lọc tới đâu. Nếu thanh lọc sạch thì có thể tùy duyên làm Phật sự, không lệ thuộc vào chay hay mặn. Ăn mặn mà độ được người thì ăn mặn. Ăn chay mà độ được người thì ăn chay. Tùy duyên mà hành xử không dính gì đến chay mặn. Vì tập nghiệp đã trừ. Chay hay mặn như thế không làm cản trở con đường thành Phật của mình. Chỉ thêm trợ duyên cho Bồ-tát đạo
          Hồi tôi mới tới thiền viện, thường được nghe kể về Đại sư TM. Do cái duyên độ sinh ở bãi biển, vùng toàn dân đánh cá, nên ngài ít khi dùng chay. Người ta mời gì ngài ăn nấy. Nhưng cuối đời, lại xếp bằng ngồi hóa mà đi. Mới biết, tuy ăn mặn nhưng ăn mặn không phải là tập của ngài, chỉ vì vấn đề độ sinh mà ngài dùng mặn. Một dạng Đồng sự trong Tứ nhiếp pháp.
          Còn đã là “tập”, thì dù là chay, đối với chỗ giải thoát thanh tịnh hay cứu cánh Niết-bàn, vẫn như mạt vàng rơi vào mắt, dù quý cũng gây trở ngại ít nhiều.
          Bởi còn tập thì “Trí phân biệt” khi ứng vào sự chưa thể không. Trí phân biệt, là tướng đầu trong lục thô, thuộc chín tướng bất giác nói trong luận Đại thừa khởi tín. “Tập” chính là thứ khiến cho thân tâm mình thành trở ngại đối với các pháp, không thể “vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn”(5).
          Tóm lại, ăn chay hay ăn mặn đều tu được. Ăn chay hay ăn mặn đều giải thoát được. Đương nhiên phải có điều kiện (duyên) đi kèm không thể nói khơi khơi.

Hai chữ tùy duyên
          Trong một thế giới mà Duyên khởi là thực lý chi phối tất cả thì khi nói “được” hay “không được”, luôn phải nói kèm với duyên của nó. Không có một giá trị chung chung cho toàn bộ vấn đề. Giá trị của pháp chỉ có khi pháp đó được nói trong một duyên nào đó.
          Như ngón áp út chỉ có giá trị ngắn khi so với cái duyên là ngón giữa, có giá trị dài khi so với ngón út. Không có hai duyên đó thì ngón áp út chỉ là ngón áp út, không thể nói là ngắn hay dài. Nói ngắn hay dài là phải nói trong duyên. Duyên nào có giá trị đó. Khi so với ngón giữa mà nói ngón áp út dài thì lỗi.
          Chay mặn trong vấn đề tu hành cũng vậy. Được hay không được, đúng hay sai đều phải nói trong duyên, mới hiển được giá trị của nó. Không nắm được mặt Duyên khởi này của pháp mà cứ luận chung chung rồi cãi nhau ì xèo thì muôn đời lục quân, không thấy đâu là mặt trời.
          Tùy vào thân tâm của hành giả: Nói “Ăn mặn vẫn tu được” vì tu là trừ bỏ tham, sân, si. Nếu ngay khi tham sân khởi lên, mình có thể nhận biết được chúng, không để chúng phát khởi thành hành động rồi tạo nghiệp, thì ăn chay hay ăn mặn đều tu được. Bởi nó liên quan đến sự tỉnh giác và lực quán chiếu của tâm không phải là miếng ăn.
          Hoặc như khi dùng cơm, chúng ta có thể quán thức ăn như Phật đã dạy để không dính mắc, thìchay mặn không thành vấn đề.
         Nhưng giả như việc ăn mặn khiến người bạn khi nào cũng nóng bức, việc điều thân điều tâm thành khó khăn - như khi hành thiền, ăn thịt cá vô thấy thân mình nặng trịch, cứ như nhuốm đầy máu của thiên hạ, tâm luôn bất an. Còn ăn chay thấy thân nhẹ nhàng(6), việc điều thân điều tâm trở nên dễ dàng - thì “ăn mặn không tu được”, ăn chay trở thành trợ duyên cần thiết cho việc tu hành.  

          Tùy vào mục đích tu hành: Bạn không tu giải thoát mà chỉ tập trung tu phước thì ăn chay không phải là vấn đề nghiêm trọng.
          Kinh dạy nhiều về bố thí và giữ gìn năm giới cho Phật tử tại gia(7). Trong đó có giới “không sát sinh” chứ không phải là “không được ăn mặn”. Khá nhiều người nhầm lẫn về chỗ này. Cứ cho không sát sinh là phải ăn chay. Hai việc đó tuy có liên quan với nhau nhưng chúng không phải là một. Nếu bạn ăn thịt cá mà tự tay bạn giết hay bảo người khác giết, tức vì mình mà thiên hạ chết thì việc ăn mặn đó đi liền với sát sinh. Còn nếu ăn mặn mà mua đồ có sẵn ngoài chợ hay đồ đông lạnh trong siêu thị về ăn thì không phải là sát sinh.
          Thứ gì dính liền với sát sinh thì cái quả mình phải nhận khi đủ duyên là bệnh tật, tai ương, đoản mạng. Nặng hơn là đọa vào ba đường dữ(8).
          Đang sung túc hạnh phúc mà bệnh hoạn ngặt nghèo hay mới ba mươi đã lăn ra chết thì hạnh phúc biến thành bất hạnh. Càng hạnh phúc bất hạnh càng nhiều. Duyên khởi đối đãi nên như vậy. Thành có khi giảm đi môt chút ngon miệng, một chút bổ khỏe mà hạnh phúc tạo ra trong hiện đời và tương lai được trọn vẹn hơn. 
           Ngài Liêm Sứ ở Hồng Châu hỏi Mã Tổ: “Uống rượu ăn thịt là nên hay không nên?”.
Mã Tổ trả lời: “Uống rượu ăn thịt là cái lộc của ông, không uống rượu ăn thịt là cái phước của ông(9)
“Không uống rượu ăn thịt là cái phước của ông”. Câu trả lời bao gồm cả hai mặt nhân quả. Không uống rượu ăn thịt là một phước báu, cũng là cái nhân tích phước cho tương lai.
         Tôi có người quen. Bà có cái duyên cúng được cho các vị cao tăng và ăn chay rất sớm. Nhưng miệng thì hơi phóng túng. Sự thật thường chỉ nói một phần, còn lại là tự chế sao cho có lợi cho mình. Nói dối coi như có bằng chứng. Đầu xuôi đuôi lọt. Một phần vì cái lợi của mình. Một phần vì thói quen. Lỡ rồi tới luôn.
          Quan sát mọi việc xảy ra từ những ngày câu chuyện mới bắt đầu (trong tầm nhìn của tôi) cho đến khi việc nói dối được phá bỏ, tôi chiêm nghiệm được một điều: Ăn chay cũng có cái phước đỡ được ít nhiều tai họa chứ chẳng phải chơi. Không phải là thứ quyết định tất cả, nhưng nó là một trợ duyên, như lỗ thủng trong cái chậu khi chưa thủng.
          Nói dối là nghiệp xấu nhưng thiên hạ thích nói dối vì chưa bị quả báo. Bà cũng vậy, chỉ mang lại những kết quả tốt đẹp và lợi lộc nên nói rất mạnh. Có những thứ mình thấy “ai ngu mới tin”, vậy mà vẫn êm xuôi trót lọt. Thiên hạ đổ nước mắt cũng nhiều. Cho đến khi bà không thích ăn chay nữa. Cái chậu nguyên vừa thủng một lỗ nhỏ, nước bắt đầu rỉ ra…
          Tôi thấy mọi việc bể lần, không cần ai khai báo. Tai họa cứ dồn tới không kịp trở tay. Hình như chính bà cũng nhận ra điều đó. Chấm dứt liền việc ăn mặn. Cũng không còn nghĩ đến việc nói dối sau khi đã nhận khá nhiều cái quả tệ hại từ nó, đủ để hiểu lý Nhân quả chi phối thế giới này thế nào.
Không ăn thịt có cái phước của nó. Điều đó có nghĩa ăn chay cũng là một phần của việc tu hành. Ai muốn thêm phước thì ăn chay. Không thì cứ ăn mặn.

          Tùy vào điều kiện xã hội của từng thời: Xưa Đề-bà-đạt-đa trình với Phật chế luật chay trường cho Tăng Ni. Phật không chấp nhận. Có lẽ do nhiều lý do. Một, ăn chay không phải là cái nhân đưa đến giải thoát. Hai, điều kiện Phật pháp lúc đó đang còn sơ khai và ăn uống đặt nặng ở việc khất thực. Đi khất thực thì thí chủ cúng gì nhận nấy. Nếu lấy chay làm trọng thì bất lợi đối với việc độ sinh.v.v...
          Trong điều kiện khất thực như thế, dù dùng mặn cũng không phạm vào ba việc mà Như Lai đã cấm: “Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng là thấy, nghe và nghi vì mình mà giết”(10).
          Ngược lại, Phật cũng không đặt ra cái lệ là phải luôn cúng mặn cho Tăng chúng mà không cúng chay, như khá nhiều Phật tử hiện nay đang làm. Cứ nghe đến hai chữ Nam tông là lại bàn nhau cúng mặn. Phật không hề đặt ra cái lệ như thế. Chư Tăng cũng đâu nói có thịt tui mới ăn.
           Trong kinh Phật dạy: “Vị Tỳ-kheo ấy không nghĩ “Thật tốt lành thay! Người cư sĩ này (hay con người cư sĩ này) thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng người cư sĩ này (hay con người cư sĩ này) trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món khất thực thượng vị như vậy”. Tỳ-kheo ấy không nghĩ như vậy. Vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly”(11). Nếu đã quán tâm như thế trong khi thọ nhận thức ăn thì chay mặn không khác vì “ý thức rõ rệt sự xuất ly”. Chỉ là tự Phật tử mình nghĩ không thông rồi truyền nhau mà… thành lệ. Lệ lâu thành luật. Nhưng luật hoài coi chừng sinh “tập”. Đó không phải là một việc tốt đối với người tu giải thoát.
          Ngày nay việc khất thực (ở Việt Nam) đa phần chỉ dành cho mấy vị giả danh. Tăng chúng thường quy tụ và có chỗ nơi nhất định. Điều kiện ăn uống đã khác. Đã có phần tự lo và tự quyết định. Đã tự quyết định thì cần chú trọng hơn đối với tinh thần Phật đã dạy “thấy, nghe và nghi vì mình mà bị giết thì không được ăn”. Dù không thấy, không nghe cũng không nghi mà làm một bài toán liền thấy nếu không có mình, con vật vẫn sống cho đến khi người khác đến mua mới bị giết thì cũng không được dùng, vì đã phạm vào cái gọi là vì mình mà bị giết.
          Cho nên, là Phật tử chúng ta cũng cần có trí tuệ đối với việc cúng dường thực phẩm cho Tăng chúng. Cúng chay thì khỏe rồi. Phước mình, phước người. Còn cúng mặn thì nhớ cúng sao cho phù hợp với lời Phật dạy là không vì việc cúng dường mà khiến sinh vật bị giết hại.
          Có một số món gần như không bao giờ được cúng. Vì cúng, liền sa vào giới cấm của Như Lai. Đó là những món mà khi mình phát tâm mua, chúng mới bị giết, như cá lóc, cá hồng, nghêu, sò, ốc v.v… Dù không thấy không nghe thì cũng vì cái đơn đặt hàng của mình, chúng mới lên đĩa.
          Kinh nói: “Này Jīvaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân...”(12). Có thể việc mình làm không vướng tới năm nguyên nhân, nhưng một hay hai cũng mệt rồi. Cúng dường Tăng chúng là để cầu phước mà lại vướng vào cái phi công đức thì lợi không bằng hại. Thành muốn việc cúng dường được phước báu tốt nhất, Phật tử mình cũng cần coi xem nên cúng cái gì và không nên cúng cái gì để được lợi người lợi mình mà không phụ ân Đức Phật.

Cuối cùng là…
           Dù chay hay mặn thì đối với người tu hành là ăn để mà sống không phải sống để mà ăn, ăn để mà tu, không phải tu để mà ăn. Như Phật nói: “Vì cầu pháp mà theo Phật tu hành, không phải vì cầu ẩm thực”(13).
          Ăn để sống thì ăn cái gì cũng được, miễn không bệnh, không hoạn, no bụng là vui. Sống mà không phải lệ thuộc vào việc ăn uống nhiều quá là một cái sướng trong đời.
          Ăn để mà tu thì dù ngon dù dở, dù chay dù mặn đều phải y những gì Đức Phật đã dạy, mới không bị cái tập ăn uống trói buộc.
          Không cần phải thức ăn cao sang, chỉ một hũ cà pháo ngâm tương, nếu không ý thức sự nguy hiểm của “tập”, thì không có nó, có khi chẳng ăn cơm được. Dính mắc như vậy, gặp cận tử nghiệp mà đủ duyên nữa thì thành con dòi bám đó như chơi. Thành là người tu hành, mình nên ý thức ít nhiều về cái tập chay mặn này. Thứ gì có nguy cơ thành “tập” thì gắng mà dừng. Thứ gì đã thành “tập” rồi thì gắng mà bỏ từ từ.
          Tổ Trúc Lâm nói: “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên/ Đói đến thì ăn mệt ngủ khì”. Không dính mắc thì đói mới ăn liền được. Không thì phải đúng cái món mình thích mới chịu ăn. Khổ hiện tại. Tương lai chắc cũng chẳng vui. 

Chú thích
(1) Tiểu bộ kinh tập IX, Đại sư Sutasoma (Chuyện tiền thân của Đức Phật).
(2) Kinh Thủ Lăng nghiêm trực chỉ, Thiền sư Hàm Thị trực giải, dịch giả Thích Phước Hảo.
(3) Thiền sư Việt Nam, HT.Thích Thanh Từ biên soạn.
(4) Nghĩa tình trân quý,  HT.Tinh Vân, NS.Hạnh Đoan biên dịch.
(3) Bát-nhã Tâm kinh.
(6) Ăn theo kiểu bình dị.
(7) Được nói nhiều trong các kinh thuộc hệ A-hàm.
(8) Kinh Tiểu nghiệp phân biệt, Trung bộ kinh, HT.Thích Minh Châu dịch.
(9) Giai thoại Thiền, Viên Đức sưu tầm, NXB. Thuận Hóa.
(10) Kinh Trung bộ, kinh Jīvaka, số 55, HT.Thích Minh Châu dịch.
(11) Kinh Trung bộ, kinh Jīvaka, số 55: “Cái gọi là tham, là sân, là si, do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lai đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây ta-la, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai”.
(12) Kinh Trung bộ, kinh Jīvaka, số 55.
(13) Kinh Trung A Hàm, phầm Cầu pháp, Thích Tuệ Sĩ Việt dịch và hiệu chú.
                     
                                                                                                      Chân Hiền Tâm



Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Thích Trí Quảng - Hạnh Sa-môn

          GN - Mỗi năm tôi tới thăm trường hạ này và trao đổi kinh nghiệm an cư. Tuy nhiên, năm nay tuổi tôi đã lớn, sức khỏe không cho phép, nhưng ba tịnh xá của hệ phái Khất sĩ tổ chức an cư và tập trung về đây nghe pháp, nên tôi nhận lời đến thăm và chia sẻ kinh nghiệm tu hành với quý Tăng Ni.
         
Quý vị biết tôi chuyên tu theo kinh Pháp hoa và thêm hai bộ kinh là Hoa nghiêm và Bát-nhã. Vì vậy, tôi sống và hành đạo trên tinh thần của ba bộ kinh Đại thừa này, nhưng khi nghiên cứu và ứng dụng trong cuộc sống, tôi thấy giáo lý Phật có sự xuyên suốt từ bậc thấp nhất đến cao nhất, nên gọi là nhứt Phật thừa. Theo tôi, chúng ta chia tông phái, pháp môn đại tiểu là không đúng, vì chỉ có một pháp môn duy nhất là thành Phật. Tất cả chúng ta tu hành đều có mục tiêu cao nhất là hướng đến thành Phật, nhưng trong nhứt thời không thành  Phật được, vì căn tánh, hành nghiệp khác nhau. Từ đó, Phật chia ra tam thừa giáo là Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát; nhưng chia như vậy vẫn chưa đủ, nên thêm hai thừa nữa là nhân thừa và thiên thừa. 
          Chúng ta bắt đầu tu từ con người và phát huy phước đức để trở thành chư Thiên. Từ vị trí chư Thiên, chúng ta xả tục xuất gia làm Sa-môn, từ Sa-môn tiến lên bậc trí giả là Duyên giác và tiến lên kế cận Phật là Bồ-tát. Đó là con đường xuyên suốt qua năm chặng đường tu từ người lên chư Thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Tuy nhiên, ta phải xác định được vị trí của mình mới tu lên được. Thực tế cho thấy có người tu, nhưng không tiến bộ hay bị sụp đổ, vì không thấy chỗ đứng của mình, nhận lầm chỗ đứng của người khác, mặc áo Sa-môn nhưng thực chất không phải là Sa-môn. Đầu tiên mới thọ giới, đắp y, ta mới có tướng Sa-môn và từ đó chúng ta cần khắc phục, trau dồi cho thành hạnh Sa-môn, vì không có hạnh Sa-môn, việc tu hành phải bị gãy đổ.
          Vì vậy, phát tâm xuất gia, học đạo, thọ giới Sa-di cho đến Cụ túc, Hòa thượng thường nhắc nhở chúng ta phải tu cho thành hạnh Sa-môn. Còn Phật khuyên ban đầu phải tu chứng quả vị La-hán. Nhưng phần lớn chúng ta không làm tròn hạnh Sa-môn, không đắc Thánh quả, lại nóng vội đi giáo hóa chúng sanh, làm chúng sanh phiền não và bị chúng sanh giáo hóa ngược lại, nên đọa. Quý vị cần suy nghĩ ý này.
Tôi kính trọng Tổ Minh Đăng Quang, gần như một đời ngài dành thì giờ cho việc tu học nhiều hơn, còn giáo hóa ít, nhưng ngài chỉ giáo hóa người có duyên; đó là điều quan trọng theo Phật dạy. Thật vậy, Phật dạy đắc La-hán rồi mới giáo hóa chúng sanh. Kinh Nguyên thủy ghi rằng tại Lộc Uyển, Phật giáo hóa năm anh em Kiều Trần Như trước và Ngài bảo năm anh em Kiều Trần Như ở nhà chuyên tu
          Tu gì? Phật bảo diệt sạch phiền não, lắng lòng thanh tịnh là bước một nhập Không môn, tức việc đời loại khỏi tai và khỏi tâm chúng ta để không vướng bận việc đời. Nhưng nhiều khi chúng ta phạm sai lầm, mặc áo Phật ở chùa, lại bàn việc đời là làm sai lời Phật dạy; đem việc đời vào lòng nên một thời gian lòng chúng ta toàn phiền não nghiệp chướng trần lao. Thậm chí Phật không cho khất thực, vì Phật dạy không phải vì ăn mà khất thực. Vì đói mà xin ăn là ăn mày thực sự, không phải Sa-môn. Phật nói nếu các thầy đói thì ngồi đó tu, Như Lai đi xin chia cho năm thầy Tỳ-kheo cùng ăn. Phật dạy rằng có ít ăn ít. Điều này chúng ta học theo gọi là tri túc, ăn ít ngủ ít, tiêu xài ít tốn kém để chúng ta được giải thoát.
          Đức Phật khất thực được bao nhiêu thì chia cho năm thầy cùng ăn. Ăn ít, trí tuệ phát sanh; hai điều này tỷ lệ nghịch với nhau. Theo kinh nghiệm tôi, ăn nhiều ngủ nhiều, nhưng ăn ít tự nhiên ngủ ít; lấy pháp làm thức ăn, lấy thiền thay cho ngủ. Ta thấy bạn đồng tu nào ăn pháp nhiều hơn thức ăn là đắc đạo, vì trí tuệ sanh ra. Thời kỳ tôi còn là học Tăng ham học đến quên ăn, nên hiểu được ý nghĩa ăn pháp. Phật dạy có hai thức ăn chính của người tu là thiền duyệt thực và pháp hỷ thực. Nguồn sống của chúng ta chỉ là Thiền và pháp. Vì vậy, Tỳ-kheo nào ăn nhiều ngủ nhiều không thể tiến tu đạo nghiệp.
          Phật không cho khất thực vì chưa thành hạnh Tỳ-kheo. Tu cho thành hạnh Tỳ-kheo, hay đắc La-hán, tức làm sao đạt được Bát Chánh đạo là chánh kiến, chánh tư duy, chánh niệm, chánh định, chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh tinh tấn. Lúc nào ta cũng đặt mục tiêu này đạt cho được. Trước nhất là chánh kiến, tức cái thấy của chúng ta có chính xác hay không. Thấy không chính xác, thấy ma tưởng Phật, thấy xấu tưởng tốt sẽ bị mắc lầm, rất nguy hiểm. 
          Truyện Tây du ký cũng gợi ý này. Ngài Huyền Trang quyết chí tu hành, nhưng đôi khi nhận lầm ma, nhận trái là phải. Vì vậy, quý vị nên luôn luôn lắng lòng thanh tịnh để nhìn đời qua lăng kính Phật pháp, thấy theo cách thấy của Phật, không thấy theo thế gian. Trung Hoa có câu châm ngôn rằng bắt đầu tu thấy núi không phải là núi, thấy sông không phải là sông. Nghĩa là người tu nhìn đời tất cả đều hoàn không, cuộc đời này không có gì hấp dẫn. Người đời thấy đẹp nên ham mới chạy theo là lao vào sanh tử. Tổ diễn tả ý này là “Trục sắc thanh nhi tham nhiễm, thập triền thập sử tích thành hữu lậu chi nhơn, lục căn lục trần vọng tác vô biên chi tội, mê luân khổ hải thâm nịch tà đồ…”. Chúng ta chết là buông tất cả. Mạng sống của chúng ta bị giới hạn trong hơi thở, thở ra mà không hít hơi thở vào được là chấm dứt cuộc sống. Ý thức mạng sống mong manh như vậy, chúng ta cố gắng đạt Thánh quả trước khi chết.
          Nhập Không môn, lắng lòng thanh tịnh để lòng trống không, không còn gì khởi lên từ vô minh, vì biết rằng tất cả khởi niệm từ ham muốn, si mê sẽ dẫn chúng ta vào con đường tội lỗi. Có hai nguồn khởi lên, một là từ tâm thanh tịnh khởi lên, đó là chơn như duyên khởi; hai là từ A-lại-da thức khởi lên gọi là A-lại-da duyên khởi. Bắt đầu tu, hàng ngày chúng ta phải cắt vọng duyên là cắt những điều khởi lên từ A-lại-da thức để thâm nhập pháp Không. Phải thể nghiệm như vậy, không phải tu pháp Không là Không suông, bị mất gốc. Cái gì khởi lên thì ta cắt ngay. Tôi kinh nghiệm pháp này. Khi ngồi yên, ta thường nhớ điều này điều nọ, nhớ việc của kiếp này là nhớ lại từ thuở nhỏ cho đến lúc đi tu xảy ra những gì và bạn bè đối xử với mình như thế nào, v.v…, những khởi niệm như vậy là từ A-lại-da duyên khởi bùng lên thuộc về vọng nghiệp, đưa chúng ta vào sanh tử. 
Nhận thức rõ lý này, chúng ta cắt bỏ vọng nghiệp cho đến khi tâm thanh tịnh được Trí Giả đại sư ví như cái áo phải giặt sạch mới nhuộm màu đạo được. Tâm thanh tịnh mới thấy Phật và nghe pháp được. Tâm không thanh tịnh chỉ nghe ngôn ngữ, không nghe được pháp. Pháp là gì? Pháp là chân thật, hay vô tự chân kinh, không bằng ngôn ngữ gọi là ngôn ngữ đạo đoạn. Chỉ còn tâm hướng về Phật, nên Phật gia bị, tâm sáng lên, đó là pháp.
          Hòa thượng Trí Tịnh không ra khỏi thiền thất, vì ở trong thiền thất để giữ tâm thanh tịnh mới an. Tôi đi hoằng pháp, Hòa thượng cũng nhắc nhở tôi an trú trong tâm thanh tịnh, để tâm chạy ra ngoài sẽ bị bất an. Hòa thượng làm Chủ tịch ba mươi năm nhưng ngài không đi vì e ngại nghiệp khởi. Trong tiềm thức của mỗi chúng ta đều có hạt giống xấu và nó sẽ dễ dàng khởi lên rất nhanh. Hòa thượng dạy rằng khi nào suy nghĩ để giải quyết việc thì may lắm là đúng được một nửa. Nhưng nếu không suy nghĩ, mà từ tâm chơn như thanh tịnh khởi lên thì đáp án chính xác đến 70%, bấy giờ nếu đối tượng là ma thì ta biết là ma, Phật thì ta biết là Phật, không bị mắc lừa. Còn nghe âm thanh, thấy hình dáng bên ngoài sẽ có vô số tội lỗi đi kèm, khiến ta mê lầm.
Từ tâm thanh tịnh hành đạo mới không bị gạt. Vì vậy, Phật khuyên người đắc La-hán mới có thể giáo hóa chúng sanh, chưa đắc Thánh quả mà giáo hóa chúng sanh là mắc nạn. Bồ-tát thị hiện làm Thanh văn thì không đắc đạo mà giáo hóa được chúng sanh, nhưng cũng phải nhớ rằng chỉ giáo hóa được chúng sanh hữu duyên thôi. Ngay như Phật còn chỉ giáo hóa người có duyên với Ngài. Trong thiền định hay từ tâm chơn như, Phật thấy người có duyên, Ngài đến giáo hóa họ. Phật giáo hóa không bỏ ai, kể cả người hốt phân là Sunita; nhưng Phật chỉ giáo hóa được một ông Sunita hốt phân, còn các người hốt phân khác, Ngài không giáo hóa được. 
          Các vị chân tu trong quá khứ đã đắc đạo, nhưng vì phạm sai lầm nên phải trả quả báo của đời trước. Sunita đời trước đã đắc La-hán, nhưng phạm sai lầm, nên đời này phải gánh phân. Vì vậy, Đức Phật đến lột bỏ cái nghiệp này xuống thì ông Thánh bên trong Sunita hiện ra. Điều này đơn giản, nhưng phải cân nhắc, nhiều khi vì “ngu đột xuất” nên phải trả giá cho cái sai lầm của mình. Sunita tu hạnh Thanh văn làm Sa-môn, làm thầy thì các vị Bồ-tát hiện thân lại cuộc đời để trợ hóa. Họ đóng vai làm vua, làm tướng, làm trưởng giả để trợ hóa ông, nhưng ông không biết. Nhận thức sâu sắc điều này, Hòa thượng Trí Tịnh nói rằng ngài không dám dự trai tăng, vì e sợ có nhiều vị quỳ lạy là Bồ-tát phát tâm trợ hóa. Đạo lực của các ngài cao hơn đạo lực của ta, nhưng các ngài thị hiện lại đóng vai cư sĩ là vua chúa, trưởng giả… 
          Hòa thượng Trí Thủ lúc sanh tiền có kể rằng cụ Lê Đình Thám dạy các Hòa thượng, nhưng lại đảnh lễ chư Tăng trước rồi mới dạy, vì nghĩ rằng hình thức Tăng-già rất quan trọng để giúp cho Phật pháp tồn tại lâu dài, nên cụ kính ngưỡng Tăng. Vì vậy, Hòa thượng Trí Thủ coi ông Lê Đình Thám là Bồ-tát hiện thân lại giúp chư Tăng phát triển trí tuệ. Thật vậy, nhờ ông này mà phong trào học Phật pháp của chư Tăng được phát triển cho đến thành lập trường học dạy chư Tăng. Các bậc tu hành có trí tuệ thấy được các vị Bồ-tát trợ hóa, nhưng ta chưa đắc La-hán, nên ta không thấy. Riêng tôi chưa đắc La-hán cũng chưa thấy được các Bồ-tát hiện thân lại để trợ hóa người tu, nhưng bằng niềm tin, tôi coi những người trợ hóa giúp tôi là những người đồng hạnh nguyện với tôi trên lộ trình Bồ-tát đạo, nên tôi quý trọng họ.
          Hòa thượng Giác Chánh không đi hoằng hóa. Ngài nói không thể hoằng pháp được vì chưa có quốc vương, vương tử, tể quan cư sĩ hiện thân ủng hộ thì không thể làm được. Thật vậy, ta muốn làm gì cũng phải có người ủng hộ. Thí dụ các sư muốn lên Đắk Lắk cất chùa phải coi ông Bí thư tỉnh ủy, hay ông Chủ tịch huyện, tỉnh, hoặc ông Giám đốc công an có ủng hộ ta hay không. Tôi đi giảng pháp thường lắng lòng thanh tịnh để quan sát các nhà lãnh đạo làm gì. Nếu họ không tin Phật, họ là người ngoại đạo thì tôi không đi đến đó; vì chỗ không có người ủng hộ ta thì sẽ gặp nguy hiểm, hoặc có người chống phá mà ta đến là đút đầu vào cái chết. 
          Lịch sử cho thấy Mục Kiền Liên thần thông bậc nhất, nhưng chỉ chút sai lầm mà bị nhóm ngoại đạo lõa thể đánh chết. Ngài có thần thông làm vua, trưởng giả phát tâm, nhưng không độ được bà bán bánh ướt, vì ngài vận thần thông cho đá bay làm hư rổ bánh của bà.
          Chúng ta lắng lòng thanh tịnh có cái nhìn chính xác thấy được đối tác của ta ở đâu, họ là ai, họ cần chúng ta điều gì thì theo đó mà giáo hóa. Theo ngài Nhật Liên, thấy chính xác bốn điều là giáo, cơ, thời, quốc. Giáo lý có vô số phương tiện và Đức Phật đã dùng vô số phương tiện để giáo hóa chúng sanh làm lợi ích cho người. Nếu nói giáo lý mà người nghe không thực hành theo được, không được lợi ích thì chỉ là danh tự Pháp sư nói nhiều nhưng không ai giải thoát. Kinh Bát-nhã đưa ra sáu pháp ba-la-mật, nhưng kinh Hoa nghiêm nói thêm có mười pháp ba-la-mật, trong đó có phương tiện ba-la-mật. Nói đến phương tiện ba-la-mật thì phải nói đến Tha Hóa Tự Tại Thiên. Vị Trời này mới có được phương tiện ba-la-mật, nên đến đâu cũng tự tại, vì ông biết người nghĩ gì, muốn gì, làm được gì, thì ông nói điều họ muốn, họ nghĩ mới dạy được họ.
          Ngoài phương tiện huệ, còn có chân thật trí. Chân thật trí nghĩa là thấy chính xác, không sai lầm, hay đó là cái thấy của Phật hoàn toàn đúng như thật khi Ngài đắc đạo, nhưng nếu nói ra chân lý ấy thì chúng sanh không thể tiếp thu được, không chấp nhận được, họ sẽ bị đọa. Vì vậy, Phật định nhập Niết-bàn khi cái hiểu, cái thấy của Ngài không truyền trao cho ai được. Cũng vậy, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đi khắp Ấn Độ tìm người tri kỷ để truyền pháp, nhưng không có. Ngài phải sang Trung Quốc và ngồi chín năm lặng thinh, may mắn có Huệ Khả tới cầu pháp thì Tổ Đạt Ma mới Niết-bàn.
          Tìm người tri kỷ để chia sẻ rất khó. Sở đắc của các bậc Thánh không chia cho chúng ta được, nhưng Phật thương xót chúng sanh, Ngài bày ra phương tiện nghĩa là những cái mà chúng ta làm được, đó là cạo đầu đi tu, ăn chay, còn làm Phật, làm Tổ thì không cách nào chỉ chúng ta được. Vì sự khó khăn đó, cho nên phải thành tựu quả La-hán, tức có đầy đủ Bát chánh đạo thì việc giáo hóa chúng sanh chắc chắn dễ dàng, hoặc người thành tựu hạnh Sa-môn, người trông thấy sanh tâm kính trọng, nên việc cảm hóa họ cũng nhẹ nhàng. Có bốn tướng là đi đứng nằm ngồi theo kiểu Sa-môn. Ngài Trí Giả thêm vào hai tướng nữa là ăn và thuyết pháp.
          Thuyết pháp cũng là hạnh Sa-môn. Nhiều thầy thuyết pháp quên hạnh Sa-môn, nên cũng cười giỡn là sai. Có hạnh Sa-môn khi thuyết pháp thì người nhìn thấy ta là Pháp sư, không phải là ông hề. Thuở còn trẻ, tôi thấy có thầy thuyết pháp vừa ca giỡn, nói tiếu lâm, người ta vỗ tay. Nhưng sau nghiên cứu Thiên Thai tông, tôi thấy thuyết pháp như vậy là mất hạnh Sa-môn, lúc đó trở thành người hề, làm cư sĩ đem vui cho người. Ngài Trí Giả dạy rằng người thuyết pháp không cho cái vui đó. Ngài thuyết pháp suốt ba tháng an cư chỉ nói ý nghĩa thâm diệu của chữ Diệu để giúp cho người nghe thâm nhập huệ Như Lai không thấy chán. Nói vui theo thế tục là kéo họ về thế tục.
          Ăn theo hạnh Sa-môn thì hành giả của phái Khất sĩ cũng giữ hạnh này. Hạnh Sa-môn là việc thọ thực, kinh hành, ngồi thiền hay thuyết pháp đều làm cho người phát tâm. Tôi thấy các thiền sư ngồi an nhiên thanh thoát cũng phát tâm. Ngày xưa quy định sau khi thọ giới ít nhất năm năm phải hiện sáu tướng giải thoát của Sa-môn. Bổn sư thấy đệ tử tròn hạnh Sa-môn như vậy mới cho đi vân thủy ba năm. Vân là mây, thủy là nước. Mây cũng là nước, nước cũng là mây. Trong suốt ba năm đi vân thủy mà không ai ngăn cản được ta và ta cũng không gây trở ngại việc của người, đó là đi kiểu mây bay ngang núi, nhưng núi không cản được mây và mây cũng không làm hư núi. Đi theo hạnh Tỳ-kheo như vậy thì không làm trở ngại cuộc đời. 
          Thủy là nước có khả năng len vào lòng đất. Tỳ-kheo đi khất thực thanh tịnh, người thấy thì họ hướng thiện, tu hành được giải thoát. Thuở nhỏ tôi đi khất thực. Thầy dạy muốn ăn chuối thì đến hàng chuối, muốn ăn xôi thì đến hàng xôi, đứng đó, đừng nói gì, chứ không dạy hạnh Tỳ-kheo.
          Sau khi thọ giới năm năm sống với thầy, học cho được hạnh Tỳ-kheo và sau ba năm đi vân thủy để tập sự thể nghiệm hạnh Tỳ-kheo trong cuộc đời rồi trở về gặp thầy. Bấy giờ thầy ấn chứng cho đệ tử có đủ tư cách cất tịnh xá. Chưa thành hạnh Tỳ-kheo mà nóng vội cất chùa, độ người, e rằng sẽ bị người độ lại.

Tôi mong rằng quý vị suy nghĩ lời Phật dạy về hạnh Sa-môn để đạt được phước đức trí tuệ, đóng góp được lợi ích cho đạo pháp.

                                                                                              HT Thích Trí Quảng

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

Ăn chay tốt cho đàn ông

Tạp chí Y học JAMA Internal Medicine số ra cuối tháng 6/2013 đăng tải nghiên cứu của nhóm chuyên gia ở ĐH California Mỹ (UOC) phát hiện thấy: Ăn chay có thể giảm tử vong vì mọi nguyên nhân cho con người, nhất là ở đàn ông, như bệnh cao huyết áp, hội chứng hồi lưu dạ dày-thực quản, tiểu đường và bệnh tim mạch do thiếu máu cục bộ, đặc biệt là theo chế độ ăn chay của người dân Địa Trung Hải.
Kết luận trên của UOC được dựa trên nghiên cứu dài kỳ ở 73.308 người. Dr. Michael Orlics người đứng đầu nhóm đề tài cho biết, so với chế độ ăn thịt thì ăn chay có nhiều lợi thế trong việc phòng tránh các loại bệnh mạn tính và giúp kéo dài tuổi thọ cho con người. Số người này được chia làm 5 nhóm: Nhóm thứ nhất không ăn chay (nhóm 1); nhóm thứ 2 bán ăn chay (nhóm 2); nhóm thứ ba ăn chay nhưng ăn cả hải sản (nhóm 3), nhóm ăn chay có dùng các sản phẩm từ sữa (nhóm 4) và nhóm ăn chay hoàn toàn (nhóm 5). Tất cả những người tham gia đều thuộc những trung cao tuổi, có học và có gia đình. Ngoài ra, những người này còn có thân hình mảnh mai, ít uống rượu, ít hút thuốc lá và thường xuyên duy trì cuộc sống vận động.
Kết quả, trong 6 năm có 2.500 người qua đời, trung bình cứ 1.000 người không ăn chay có 7 người tử vong mỗi năm so với 5/1000 người ở nhóm ăn chay. Như vậy người ăn chay có tỷ lệ tử vong vì mọi nguyên nhân thấp hơn so với nhóm không ăn chay tới 12%, đàn ông có nhiều lợi thế hơn phụ nữ. Theo đó, những người đàn ông ăn chay ít bị tử vong vì tim mạch, trong khi đó ở phụ nữ lại không có những lợi thế này.
Với kết luận trên, nhóm nghiên cứu cho rằng, trong khi giới dinh dưỡng không ủng hộ ăn chay, nhưng mọi người đều nhất trí cho rằng ăn chay cần phải cân bằng dưỡng chất và nên giảm một số thành phần không có lợi như đường trong đồ uống, ngũ cốc chế biến quá kỹ hay có quá nhiều mỡ xấu như mỡ bão hòa và mỡ tran-fat...
Để có lợi nhất cho sức khỏe, giới ẩm thực khuyến cáo nên kết hợp giữa 2 chế độ ăn nói trên, sẽ có lợi hơn cho sức khỏe con người, nhất là đối với nhóm đàn ông trung cao tuổi.
                                                                                                                       Theo Nông Nghiệp

Thơ Nguyên Sa

Thơ Nguyên Sa


     


Nguyên Sa sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932, tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn Việt Nam nổi tiếng từ thập niên 1950, với những tác phẩm nổi danh như "Áo lụa Hà Đông", "Paris có gì lạ không em", "Tuổi mười ba", "Tháng Sáu trời mưa", v.v. 

Tổ tiên Nguyên Sa gốc ở Thuận Hóa (Huế), ông cố ông là Thượng thư Trần Trạm, giữ chức Hiệp tá Đại học sĩ trong triều đình thời Tự Đức, đến đời ông nội mới ra Hà Nội.

Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gia đình ông tản cư đi Hà Đông. Tại đây, ông bị Việt Minh bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm 1949. 

Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. 

Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thúy Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước. 

Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời. 

Ông mất ngày 18 tháng 4 năm 1998. 

Sau đây là những bài thơ đã được tuyển chọn. 


Buổi Sáng Học Trò
Nguyên Sa

Trang sức bằng nụ cười phì nhiêu
Nhẩy bằng chân chim trên giòng suối cạn
Ấy là em trên đường đi buổi sáng
Trăng ở trên môi và gió ở trong hồn

Mái tóc mười lăm trên lá tung tăng
Em ném vào phố phường niềm vui rừng núi

Vẽ lên chiếc xe sơn xanh dáng thuyền trẩy hội
Cho những vườn hoa cầm đôi mắt bình yên

Gửi những cung đàn tiếng guốc khua vang
Hẹn đám mây xanh vịn cánh tay tuổi trẻ

Khoác giọng nói tin yêu vào hồn anh đóng cửa
Với biển là tay và sóng cũng là tay

Ðể anh trở thành hải đảo bị bao vây
Ðể đáy mắt san hô thêm nước ngọt

Như con dế mèn cánh đau vào buổi sáng
Nhìn theo em uống từng giọt sương hoa

Anh chợt nghe mạch đất đưới chân đi
Anh chợt nhớ trong hồn đôi cánh trắng.



Áo Lụa Hà Ðông
Nguyên Sa

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng
Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mua thu dài lắm ở chung quanh
Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bay vội vã vào trong hồn mở cửa

Gặp một bữa, anh đã mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị hỹ của tâm hồn
Thơ học trò anh chất lại thành non
Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu

Em không nói đã nghe từng gia điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Anh trông lên bằng đôi mắt chung tình
Với tay trắng, em vào thơ diễm tuyệt

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng, chẳng vì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau
Ðể anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại

Ðể anh giận, mắt anh nhìn vụng dại
Giận thơ anh đã nói chẳng nên lời
Em đi rồi, sám hối chạy trên môi
Những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng

Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Ðông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng


Em Gầy Như Liễu Trong Thơ Cổ
Nguyên Sa

Em ốm nghe trời lượng đã hao
Em ngồi trong nắng mắt xanh xao
Anh đi giữa một ngàn thu cũ
Nhớ mãi mùa thu bẽn lẽn theo
Anh nhớ em ngồi áo trắng thon
Ngàn năm còn mãi lúc gần quen
Em gầy như liễu trong thơ cổ
Anh bỏ trường thi lúc thịnh Ðường

Anh nhớ sông có nguyệt lạ lùng
Có trời lau lách chỗ hư không
Em tìm âu yếm trong đôi mắt
Thấy cả vô cùng dưới đáy sông

Anh nắm tay cho chặt tiếng đàn
Tiếng mềm hơi thở, tiếng thơm ngoan
Khi nghe tiếng lạnh vào da thịt
Nhớ tiếng thơ về có tiếng em.



Người Em Sống Trong Cô Ðộc
Nguyên Sa

Tay anh dài sao em không gối mộng
Thơ anh say sao chẳng uống cho đầy
Mắt thuyền trôi anh chèo cả hai tay
Sao chẳng ngự cho hồn anh xuống nhạc
Sao chẳng đến cho lá vàng xanh biếc
Năm ngón tay anh trổ lá mùa xuân
Ngọc cho em anh đúc ở thư phòng
Có lửa cháy trong mắt buồn da diết

Có thơ sáng thắp trong rừng ánh nguyệt
Những lời êm bầy biện với linh hồn
Có mùa thu thay áo ở đầu non
Cho dịu lối em về mai lá rụng

Em chói sáng trong tình anh cô độc
Cả cuộc đời mộng ảo nhớm bừng lên
Gót kiều thơm chuyển bước: bút thần run
Chờ em đến tuổi trời anh đốt lửa

Hãy thở gấp cho anh nhiều hơi thở
Mắt mở to cho biển rộng vô cùng
Hãy ban từng khóe mắt đốt hoa đăng
Và má đỏ tiếp hồng xuân vĩnh viễn

Em đã đến chưa? Sao đêm chợt vắng
Cả cuộc đời xáo động chợt hao đi
Những ngón tay dần chuyển đến hôn mê
Và tà áo phủ chân trời trước mặt.



Ðẹp
Nguyên Sa

Người dáng bước bơ vơ của bầu trời hải đảo
Tóc bồng bềnh trên nếp trán ưu tư
Những ngón tay dài ướp trọn mấy ngàn thu
Mà men sáng trong xanh mầu trăng vời vợi
Hơi thở mới nguyên của đồng tiền mừng tuổi
Tôi nhìn người ngóng đợi mắt lên ba
Người về đây có phải tự trời xa
Với nét mắt vòng cung của cầu vồng che mưa nắng?

Có phải tên người là âm thanh vô vọng
Nên mắt buồn le lói thoáng bơ vơ
Hay một đêm nao nước lụt Ngân Hà
Thượng đế đưa sao mang gửi về khóe mắt?

Người về đâu giữa đàn khuya dìu dặt
Hơi thở thiên thần trong tóc ẩm hương xưa
Người đi về trời nắng hay mưa
Sao để sương gió trầm tư thêu thùa má ướt

Mắt dịu ngọt đúc từ rừng ngọc bích
Hay linh hồn trăm phiến đá chân tu
Sao người về mang trọn một mùa thu
Với mây trắng lênh đênh của những chiều nguyệt tận

Là gió trăm cây hay là cồn nước đọng
Người không cười mà hoa cỏ gói trong tay
Ðường áo màu viền trắng cổ thơ ngây
Màu sắc thời gian người thu tròn giữa áo

Bóng nhỏ xa đi trên lá vàng cổ đạo
Bước chân chìm theo mỗi phím đàn khuya
Tay trần gian tôi đếm ngón so le
Ðã có phút âu lo đường về dương thế

Người về đâu mà lầu đài hoang phế
Mang dáng người trên mỗi nấm bia phai
Trăm vạn đường mây xê dịch chân trời
Theo tiếng nhặt khoan của từng nhịp bước

Dù về đâu tôi xin đừng chậm gót
Ðể làm gì cho mỏi mắt trần gian
Có bao giờ tôi sẽ phải làm quen
Lời ngỏ ý sẽ là kinh cầu nguyện...


Paris Có Gì Lạ Không Em?
Nguyên Sa

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim
Paris có gì lạ không em?
Mai anh về giữa bến sông Seine
Anh về giữa một giòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em?

Em có đứng ở bên bờ sông?
Làm ơn che khuất nửa vừng trăng
Anh về có nương theo giòng nước
Anh sẽ tìm em trong bóng trăng

Anh sẽ thở trong hơi sương khuya
Mỗi lần tan một chút sương sa
Bao giờ sáng một trời sao sáng
Là mắt em nhìn trong gió đưa...

Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ gọi là mây
Ngày sau hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng bay

Anh sẽ chép thơ trên thời gian
Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen
Vì em hay một vừng trăng sáng
Ðã đắm trong lòng cặp mắt em?

Anh sẽ đàn những phím tơ trùng
Anh đàn mà chả có thanh âm
Chỉ nghe gió thoảng niềm thương nhớ
Ðể lúc xa vời đó~ nhớ nhung

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về mắt vẫn lánh đen
Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
Chả biết tay ai làm lá sen?...



Tháng Sáu Trời Mưa
Nguyên Sa

Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt
Trời không mưa anh cứ lạy trời mưa
Anh lạy trời mưa phong toả đường về
Và đêm ơi xin cứ dài vô tận
Ðôi mắt em anh xin đừng lo ngại
Mười ngón tay đừng tà áo mân mê
Ðừng hỏi anh rằng: có phải đêm đã khuya
Sao lại sợ đêm khuya, sao lại e trời sáng...

Hãy dựa tóc vào vai cho thuyền ghé bến
Hãy nhìn nhau mà sưởi ấm trời mưa
Hãy gởi cho nhau từng hơi thở muà thu
Có gió heo may và nắng vàng rất nhẹ

Và hãy nói năng những lời vô nghĩa
Hãy cười bằng mắt, ngủ bằng vai
Hãy để môi rót rượu vào môi
Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn

Gió có lạnh hãy cầm tay cho chặt
Ðêm có khuya em hãy ngủ cho ngoan
Hãy biến cuộc đời bằng những tối tân hôn
Nếu em sợ thời gian dài vô tận

Tháng sáu trời mưa, em có nghe mưa xuống
Trời không mưa em có lạy trời mưa?
Anh vẫn xin mưa phong toả đường về
Anh vẫn cầu mưa mặc dầu mây ảm đạm

Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng
Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân
Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân
Vì anh gọi tên em là nhan sắc

Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi
Anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
Anh sẽ nhớ suốt đời mưa tháng sáu




Cần Thiết
Nguyên Sa

Không có anh lấy ai đưa em đi học về?
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học?
Ai lau mắt cho em ngồi khóc?
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa?
Những lúc em cười trong đêm khuya,
Lấy ai nhìn những đường răng em trắng?
Ðôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
Lúc sương mù ai thở để sương tan

Ai cầm tay cho đỏ má em hồng
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc...

Không có anh nhỡ một mai em khóc
Ánh thu buồn trong mắt sẽ hao đi
Tóc sẽ dài thêm mớ tóc buồn thơ
Không có anh thì ai ve vuốt?

Không có anh lấy ai cười trong mắt
Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong
Ai cầm tay mà dắt mùa xuân
Nghe đường máu run từng cành lộc biếc?

Không có anh nhỡ ngày mai em chết
Thượng đế hỏi anh sao tóc em buồn
Sao tay gầy sao đôi mắt héo hon
Anh sẽ phải cúi đầu đi vào địa ngục...



Bây Giờ
Nguyên Sa

Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt
Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư
Tay quờ quạng cầm tay vài tiếng hát
Lúc xòa ra chẳng có một âm thừa
Cửa địa ngục ở hai bên lồng ngực
Phải vác theo trăm tuổi đường dài
Nên có gửi cho ai vài giọng nói
Cũng nghe buồn da diết chạy trên môi

Hai mắt rỗng phải che bằng khói thuốc
Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao
Mỗi buổi sáng mặt trời làm sấm sét
Nên nhìn đêm mở cửa chẳng đi vào

Năm ngón tay có bốn mùa trái đất
Chúng tôi cầm rơi mất một mùa xuân
Có cất tiếng đòi to. Tiếng đòi rơi rụng
Những âm thanh làm sẹo ở trong hồn

Chúng tôi trót ngẩng đầu nhìn trước mặt
Trán mênh mông va chạm cửa chân trời
Ngoảnh mặt lại đột nhiên thơ mầu nhiệm
Tiếng hát buồn đè xuống nặng đôi vai.



                                      Hoa Bưởi
 
Nguyên Sa

                     Em đi ngang đó, gần đường
                     Sao không ghé lại nói còn hay không
                     Nhớ ngày cây bưởi đâm bông
                    Mùi thơm hoa bưởi ngàn năm vẫn còn...


Lúc Chết
Nguyên Sa

Anh cúi mặt hôn lên lòng đất
Sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng
Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không
Ðôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh
Ở bên ấy mây mùa thu có lạnh
Anh nhìn lên mái cỏ kín chân trời
Em có ngồi mà nghe gió thu phai
Và em có thắp hương bằng mắt sáng?

Lúc ra đi hai chân anh đằng trước
Mắt đi sau còn vương vất cuộc đời
Hai mươi năm, buồn ở đấy, trên vai
Thân thể nặng đóng đinh bằng tội lỗi

Ðôi mắt ấy đột nhiên buồn không nói
Ðột nhiên buồn chạy đến đứng trên mi
Anh chợt nghe mưa gió ở trên kia
Thân thể lạnh thu mình trong gỗ mục

Anh chợt ngứa nơi bàn chân cỏ mọc
Anh chợt đau vầng trán nặng đêm khuya
Trên tay dài giun dế rủ nhau đi
Anh lặng yên một mình nghe tóc ướt

Nằm ở đấy, hai bàn tay thấm mệt
Ngón buông xuôi cho nhẹ bớt hình hài
Những bài thơ anh đã viết trên môi
Lửa trái đất sẽ nung thành ảo ảnh.



Tương Tư
Nguyên Sa

Tôi đã gặp em từ bao giờ
Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
Kể từ gió thổi trong vừng tóc
Hay lúc thu về cánh nhạn kia?
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Có phải mùa xuân sắp sửa về
Hay là gió lạnh giữa đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Ðể nắng thu vàng giữa lối đi?

Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Ðàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương

Buổi tối tôi ngồi nghe sao khuya
Ði về bằng những ngón chân thưa
Và nghe em ghé vào giấc mộng
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa

Tôi không biết rằng lạ hay quen
Chỉ biết em mang theo nghề thường
Cho nên đôi mắt mờ hư ảo
Cả bốn chân trời chỉ có em.




Tuổi Mười Ba
Nguyên Sa

Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng
Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay
Trời nắng ngạt ngào tôi ở lại đây
Như một buổi hiên nhà nàng dịu sáng
Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám
Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba.
Tôi phải van lơn: ngoan nhé đừng ngờ
Tôi phải dỗ như là tôi đã lớn
Phải thẹn thò như sắp cưới hay vùa sêu
Phải nói vơ vào, rất vội: người yêu
Nếu ai có hỏi thầm: ai thế?

Tôi nói lâu rồi nhưng ngập ngừng khe khẻ
Ðể giận hờn chim bướm trả dùm tôi
Nhưng rồi lòng an ủi nắng chưa phai
Tình chưa cũ vì tình chưa mới...

Má vẫn đỏ một màu con gái
Với những lời hiền dịu nhưng chua ngoa
Lòng vẫn ngỡ ngàng tóc ướp bằng thơ
Sao hương sắc lên mắt mình tình tứ

Và đôi mắt nhìn tôi ngập ngừng chim sẻ
Ðôi mắt nhìn trời nhè nhẹ mây nghiêng
Tôi biết nói gì cả trăm phút đều thiêng
Hay muốn nói nhưng lòng mình ngường ngượng

Chân dịu bước và mắt nhìn vương vướng
Nàng đến gần tôi chỉ dám quay đi,
Cả những giờ bên lớp học trường thi
Tà áo khuất, thì thầm: "chưa phải lúc..."

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Tôi thay mực cho vừa màu áo tím.

Chả có gì sao lòng mình cũng thẹn
Ðến ngượng ngùng bỡ ngỡ: hay là ai...?
Trăm bức thư lót giấy kẻ dòng đôi
Mà nét chữ run run dù rất nhẹ

Tôi đã viết hay chỉ thầm âu yếm kể
Tôi đã nhìn hay lặng lẽ say sưa
Và lo sợ khi lòng mừng quá đỗị
Rồi trách móc trời không gần cho tay với

Và cả nàng, hư quá! sao mà kiêu...
Nên đến trăm lần: "nhất định mình chưa yêu..."
Hôm nay nữa... nhưng lòng mình... sao lạ quá...




Chào Nhau
Nguyên Sa

Gặp em không thể chào bằng tay
Em sẽ chê là năm cành cây
Em sẽ chê là năm nòng súng lạnh
Bởi vì đau hai mươi năm nay
Gặp em không thể chào bằng mắt
Em sẽ không thể ngủ được ban đêm
Em sẽ nằm trong cơn thù hận
Em sẽ chìm sâu trong cơn điên

Gặp em không thể chào bằng môi
Chỉ còn da thịt chẳng còn hơi
Chỉ còn tiếng kêu, chỉ còn tiếng thét
Chẳng còn tiếng nói, không còn tiếng cười

Gặp em ta sẽ chào như loài kiến
Chào như loài dế, chào như loài giun
Chạm tóc vào nhau ta gục đầu xuống
Như đồng bào ta nằm trong đất đen

Gặp em chưa được chào bằng vai
Như những xác người xếp dài
Ta chỉ chào bằng hai hàng nước mắt
Từ hai mươi năm nằm im trên môi.




Ðợi Khách
Nguyên Sa

Em đứng lẫn bên góc hè phố vắng
Như loài hoa hoang dại trong rừng sâu
Màu da tơ bóng tối ngã u sầu
Ðôi mắt đẹp từng cánh sao tắt lịm
Em đứng đợi một người không hẹn đến
Bán cho người tất cả những niềm vui
Chút tình hoa còn lại thoáng hương phai
Em dâng cả làn môi khô nước ngọt

Trong đêm mỏi hàng mi mờ khẽ ướt
Má phai duyên trên gối đẫm thẹn thùng
Ấp mặt bên người lạ, lạnh mênh mông
Bàn tay nhỏ thẫn thờ như lạc lõng

Em đứng lẫn bên góc hè phố vắng
Nghe đêm tàn làm lạc khách tìm vui
Ðôi tiếng giầy khua vắng tắt xa xôi
Làm vỡ nốt cả đôi niềm tin tưởng

Người khách lạ đêm lạc loài không chọn hướng
Bước đảo say làm vỡ nát màu trăng
Em chờ mong như đợi một âm thầm
Tình sầu tủi pha chút men rượu cặn

Ðã lâu rồi vết thời gian trĩu nặng
Từ lần đầu bàn tay trắng đàn mơ
Nhận tiền cho bên nếp gối chăn thừa
Em đã khóc, lòng hoa sầu nát nhụy

Ðêm gần tàn em ơi người gái đĩ
Ðợi trong khuya, bến vắng ngủ say rồi
Nhìn ánh đèn vương lại cửa nhà ai
Rồi kéo vội khăn quàng trên vai lạnh...




Hạ
Nguyên Sa

Em đến với ta trong mùa vừa Hạ
Hai tâm hồn một ánh nắng vàng vương
Trong nồng ấm ta yêu em vội quá
Cao tuyền đài ánh sáng của tình thương
Nắng đến với đôi ta vừa cuối Hạ
Ta bàng hoàng trong mắt em rạo rực
Nắng chưa về sao áng đỏ bay xa?
Thu sẽ đến, ôi tình em thổn thức...

Tháng Tám Riêng
Nguyên Sa

Khi em cởi áo nhọc nhằn
Cất son phấn chỗ rất gần xót xa
Anh xin ân huệ kiếp xưa
Xếp phong sương cũ với ngờ vực quen
Anh ru em ngủ cách riêng
Trời Tô Châu xuống, giấc hoàng điệp bay
Ðắp lên mười ngón hao gầy
Cây trong giấc mộng mang đầy trái thơ
Trái Giang Nam những ngày mưa
Anh ru em ngủ giấc mơ phù kiều
Hải âm trả lại tiếng đều
Tiếng son sắt ở, tiếng vào thiết tha...